Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Nhìn lại con đường phim truyện Việt Nam: "Bến không chồng - Nơi tình ái trả giá"

Cảnh trong phimBến không chồng

*****

Những tháng năm đầy biến động giữa thế kỷ 20 chứng kiến bao sự kiện đặc biệt của lịch sử tổ quốc: Hòa bình lập lại sau chín năm đánh đuổi thực dân Pháp, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ vang lừng cùng Hiệp nghị Genève đem lại hòa bình cho miền Bắc. Tổ quốc từ nay trợ thời bị chia đôi tại vĩ tuyến 17; cùng lúc đó, đế quốc Mỹ bắt đầu đặt chân lên miền Nam Việt Nam, mở đầu thời đoạn tranh đấu khốc liệt mới. Năm 1954, làng quê miền Bắc gần như trống lổng: đồng ruộng xờ xạc, thôn xóm tiêu điều; cái nghèo cái khó len vào từng truông ngõ, hiển hiện trên gương mặt mệt mỏi của những ông bà già lẫn những người trẻ tuổi từ đầu làng đến cuối xóm. Dốc lực cho cuộc chiến vệ quốc, làng Đông cũng như bao thôn ấp khác, giờ đây chỉ còn lại những người già với đông đảo các thế hệ đàn bà, từ các cụ bà, các goá phụ đến các cô, rồi các em gái mới lớn… bóng vía người nữ gắn liền với làng quê thuở ấy, trở nên một trong những biểu trưng xao xuyến trong đời sống làng quê thời hậu chiến. Các tác giả phim đã xộc thẳng vào làng, bằng tư thái của người trong cuộc; mổ xẻ, phản ánh tận tường bộ mặt bên ngoài cũng như bên trong những đoạn đời bất hạnh – sản phẩm của chiến tranh cùng tập tục lạc hậu, thành kiến khe khắt của làng.

Dụng tâm đề đạt của các tác giả phim tụ họp vào thân phận người nữ giới thời chiến và hậu chiến. Những mất mát, đớn đau của họ lúc hữu hình, lúc vô hình; lúc nào cũng gay gắt đắng cay. Sự hy sinh của họ có thể cảm nhận được, song khó có thể thấu hiểu cụ thể, bởi nó vô cực và quá sâu thẳm. Thảm kịch trong tâm tưởng các nhân vật tuồng như không thể giải tỏa bởi không có lối thoát tự thân, lại bị ngăn chặn bởi cảnh ngộ và tập tục. Nó trở thành nỗi đau khắc khoải truyền kiếp của những thân phận nữ giới thôn quê. Trên nỗi đau đó, các nhân vật kiên nhẫn duy trì cuộc sống hẩm của mình; và hầu như thường loại trừ một ai, toàn bộ đều nuôi dưỡng khát vọng đổi thay cháy bỏng hoặc lặng thầm hoặc bùng phát. Đó là dấu hiệu chống cự tự nhiên, thích hợp với logic tâm lý lẫn sinh lý của nhân vật. Bằng bút pháp tả chân, không lánh né và có phần thô bạo, bộ phim xốc lên, phơi bày gần như bít tất diễn tiến bên trong của thế giới những tâm can, tình cảm, ao ước sâu kín của người đàn bà… chuẩn y hàng loạt biểu trưng và chi tiết, các tác giả soi tìm cái bản tính của hiện tượng mà mỗi nhân vật là đại diện, đi tìm dòng chảy ngầm mang ý nghĩa bản tính. Khắc họa đầy đủ, sắc nét thân phận xấu số của nhân vật trong những điều kiện và tình cảnh xác định, là thủ pháp đáng giá được tác giả dùng để lên án hoàn cảnh – mà ở đây là chiến tranh cũng như phê phán điều kiện, là tập tục khe khắt của quê làng. Mâu thuẫn được kết tụ, đẩy lên tới cực điểm bằng cái chết oan khiên của nhân vật Vạn, chứng tỏ thuộc tính quyết liệt của mối xung đột nội tâm, cũng như mức độ nghiêm trọng trong mâu thuẫn quan hệ xã hội được tác giả đặc biệt tận dụng, như một thủ pháp xây dựng hình tượng gây sốc. Tuy nhiên, bên cạnh ưu thế đã thấy, việc tô đậm quá mức sự thật đời sống và cố ý cường điệu một chiều; có thể tạo ra cảm giác khiên cưỡng, làm giảm niềm tin vào giá trị trung thực của sự kiện. Từ câu chuyện của cá nhân, gia đình; giờ đây, qua phim, đã trở thành sự kiện đáng quan tâm của tầng lớp mà lâu nay ít được quan hoài. Ý nghĩa nhân văn của tác phẩm được khẳng định từ đấy.


Bến không chồngkhắc vào tâm não người xem một ấn tượng chung khá đậm nét. Đó là kết quả dùng sắc sảo thủ pháp “tiêu biểu hóa” trong mọi trường hợp và cấp độ khác nhau. Không gian – địa điểm diễn ra câu chuyện nằm lọt giữa quang cảnh đặc trưng của nông thôn đồng bằng Bắc bộ với bờ tre, giếng thơi, bến nước, đường làng lát gạch lô nhô… Làng Đông như một con thuyền lớn, tải nặng những cảnh đời chắp nối, những thân phận dang dở cùng những tâm can bất định. Hình thành một đối tượng miêu thuật như vậy, các tác giả đã tạo cơ sở vững vàng cho hệ thống cảnh huống tiêu biểu nảy. Và theo đó, là sự ra đời của những nhân vật điển hình, mang nhân tố khác thường.

Diễn viên Như Quỳnh vai bà Hơn trong phimBến không chồng

Vạn giải ngũ trở về làng, một sự trở về như là tượng trưng chấm dứt chiến tranh. Hòa bình lập lại với sự trở về của một quân nhân là chuyện thông thường, nó hứa bao điều an vui hạnh phúc cho bao người. Song ở đây mọi thứ diễn ra không hẳn như vậy. Khi Bóng dáng người đàn ông hiện về, thôn trang sôi lên, cái sôi phấn khởi nóng rát bất thường, đặc biệt ở cánh nữ. Hiện tượng này dự báo sự xuất hiện của những cảnh huống đầy kịch tính trong tương lai. Quả vậy, với thực chất của người lính lâu năm xông pha nơi mặt trận, Vạn chẳng thể dễ dàng rời xa những nguyên tắc cố hữu, luôn khắt khe với bản thân và quen dùng mệnh lệnh. Khi rơi vào giữa những người phụ nữ như Nhân và Hơn; Vạn trở nên cố thủ, cho dù những người nữ giới đó, và cả những cô gái lớp sau, đã không ít lần mở lòng đến với anh. Nghe đâu tinh thần chấp nê cùng tâm lý cô độc đã thấm sâu vào cuộc sống đơn chiếc, tạo ra bức tường khó thể xuyên qua nơi người cựu binh trung niên này. Luôn ngày cùng với cây súng thân thuộc; mở miệng chỉ thốt những lời đơn giản, cộc ngắn; lầm lũi có đến hai mươi năm bên lề cuộc sống gia đình, Vạn như quyết nhận chìm sờ soạng vào bên trong, chỉ kiên trì để lại bên ngoài một vẻ lạnh nhạt, sần, thô độc. Sau này, khi Vạn bỗng đổi thay -- thay đổi đột ngột và hết sức quyết liệt: lần trước tiên đánh bạo ôm ghì bà Nhân, như mở toang cánh cửa lâu nay đóng chặt; Lần sau đó, trong dạng biến động dữ dội hơn của tiềm thức, Vạn đã cùng Hạnh -- con gái bà Nhân trao thân xả láng như không còn gì để cất giữ. Sự biến đổi quyết liệt của Vạn là kết quả của quá biểu diễn tiến tâm lý, do tình cảnh tác động nên vô cùng nóng bỏng và phức tạp, tinh tế. Ở đây, tác giả đã thành công trong nghệ thuật cấu trúc xung đột tâm lý, tạo bất thần một cách sinh động khi xây dựng và đặt hai hình tượng khác ngược nhau của cùng một nhân vật lên hai đầu của tiến trình phát triển tâm lý. Từ chỗ là một cựu lính lặng thầm, khô khan, vụng, nhân vật Vạn về sau đã biến đổi từ bên trong, trở nên người đàn ông cả quyết, quyết liệt. Đó là cuộc hành trình đau đớn của nhân vật tự lột bỏ tinh thần tự kỷ bản năng, phá vỡ vòng kiềm hãm vô hình cũng như hữu hình từ hoàn cảnh sống. Hành động đột ngột của Vạn thoạt cảm nhận, như là một bột phát tức tốc; càng suy nghiệm, sẽ càng minh ngộ rằng đó là điều thế tất. Bằng lòng tình cảm bà Nhân như là việc đặng chẳng đừng sau thời kì dài ủ ấp lưỡng nan, còn việc yêu Hạnh thì như là cơn mưa vội đầu hè sau những ngày tháng trữ oi ả. Cái điều có phần vướng vấp trong đời sống thực về mối quan hệ giữa ông Vạn với cả hai mẹ con bà Nhân, trong trường hợp này, với logic nghệ thuật, lại có thể chấp thuận được, bởi đó là lối thoát cần thiết dẫn đến kết cục bi đát bằng cái chết của ông Vạn – một cái chết tô đậm chủ đề mang chất giọng chống cự quyết liệt.Bến không chồng, nơi tụ tập của những người đàn bà cô đơn, tới lúc này, còn mang thêm ý tức thị biểu tượng xui xẻo của những mối tình dang dở. Bà Nhân, bà Hơn – những hình ảnh đại diện lớp đàn bà xấu số do mất chồng sớm, đành lòng ở vậy nuôi con và làm bổn phận gia chủ, góp phần một cách thiên nhiên hình thành khuôn mẫu sinh hoạt ở quê làng. Khác biệt với thế hệ trước, Hạnh là tượng trưng của lớp gái trẻ hăng hái đầy sức sống, song trong hoàn cảnh mặc định, buộc phải chịu chung số. Tình cảm và hành động của Hạnh khi chủ động đến với ông Vạn là sự bứt phá thiên nhiên của một sức mạnh tâm thức vốn bị nén ép và buộc phải sang trọng quá nhiều cọ xát đau đớn. Sự “vượt biên” của Hạnh đã tạo ra bước ngoặt chủ chốt đối với quá trình xử lý nghệ thuật nhằm chấm dứt câu chuyện phim, gây ấn tượng và tô đậm ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm.

Nghệ thuật diễn xuất chịu sự chi phối của hai mảng nhân vật trong phim: già và trẻ, tạo thành hai phông diễn tương phản nhau. Các vai diễn ông Vạn, bà Nhân, bà Hơn được các nghệ sĩy Lưu Trọng Ninh, Minh Châu và Như Quỳnh biểu thị rất sắc nét; tạo ra phong cách diễn đạt chung là tiết chế tối đa, biểu thị tính cách và thân phận nhân vật trên nền diễn tâm lý. Do đó, có vẻ họ rất “ít diễn”, mà sống thay nhân vật. Bằng lối mô tả âm thầm, quơ được cố ý nhấn chìm vào bên trong, chỉ để lộ ra bên ngoài những gì là đặc trưng tiêu biều của nhân vật; chẳng hạn, vai ông Vạn được thể hiện dưới dạng khép kín, có phần trễ tràng và hốc hác. Trong lúc đó, vai Hạnh tươi trẻ, hoạt bát, phối hợp ngoại hình với nội tâm, kiến lập sinh động hình ảnh thiếu nữ thời ấy, nơi chốn ấy.


Chi tiết trongBến không chồngđược các tác giả cài đặt khéo léo và hợp lý. Để giới thiệu hoàn cảnh đặc trưng của câu chuyện, loạt chi tiết vụn ngắn mang ý nghĩa tượng trưng (và cả ẩn dụ) xuất hiện theo bước chân về làng của Vạn: bãi phân trâu trên đường, đôi bàn chân khô héo của người nữ giới nặng nhọc dấn bước, đứa trẻ ngồi gọn trong chiếc nồi được đội trên đầu, đám đông các bà góa la liệt dõi nhìn người lính phục viên, chiếc thuyền trôi nhẹ chất đầy đồ gốm sứ… Khi miêu diễn thân phận nữ giới, có cảnh người cha bắt giọng cho đám con gái cùng đọc lớn: “Chúng con là lũ vịt trời, bé thì ăn hại lớn thì bay đi!”, rồi cảnh tiếng gào khóc cố đuổi theo bước chân đang hấp tấp tránh xa của Hạnh… Tiếng kẻng hai lần vang lên trong phim đã trở nên tác nhân tô đậm ý nghĩa đa tầng của tình huống. Lần thứ nhất là tiếng báo động khi có người phát hiện ông Vạn ôm bà Nhân và lần thứ hai là hiệu lệnh gọi bà con đến mục kích cảnh ông Vạn chung giường với Hạnh và con gái. Tiếng kẻng ở đây đã biến thành sức mạnh khó cưỡng của tập tục và thành kiến khắt khe của làng.

Ống kính máy quay tỏ ra linh hoạt, phối hợp hài hòa động tác động với tĩnh. Nhiều cú lia phức hợp bao quát không gian rộng, đem đến cảm giác khoáng đạt cần thiết sau chuỗi cảnh hẹp với những khuôn hình cận, có khi đặt tả khá căng nặng. Tông màu của phim luôn chuyển đổi theo nội dung; nếu ở đoạn đầu, khi trình bày không khí cô độc nặng nề, màu phim cốt tử nghiêng về tím đen; thì về sau, trong những cảnh diễn đạt nhịp sống bình thường, đã sáng dần ra.

Biểu lộ bằng thái độ trực tính, không chút màu mẽ; các tác giả phim như đã dựng nên một cách sống động hình ảnh của cái thế giới hiện thực đã từng tồn tại ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ hồi giữa thế kỷ 20. Thái độ thể hiện đó còn làm cho các thảm kịch cá nhân chủ nghĩa được khách quan hóa trong khung cảnh của từng lớp đương thời. Một đặc sắc khác của bộ phim là đã làm hiển hiện ở khắp các nguyên tố tạo nên hình ảnh; từ bối cảnh, không khí đời sống đến khuân mặt con người, y phục, tập tục…một sắc thái thuần Việt.

Bộ phim đã góp tiếng nói mạnh mẽ phá bỏ hàng rào tự kỷ, bớt đi thói ích kỷ, định kiến để hòa vào dòng sống tự nhiên muôn thuở .Bến không chồnglà một trong số không nhiều những tác phẩm phim truyện Việt miêu tả cá tính và phong cách trình diễn.# Rõ nét và độc đáo.

Bến không chồng

-Hãng phim Truyện Việt Nam sinh sản năm 2000

-Biên kịch: Lưu Trọng Văn

-Đạo diễn: Lưu Trọng Ninh

-Quay phim: Nguyễn Hữu Tuấn

-Họa sĩ: Phạm Quang Vĩnh

-Diễn viên: Thúy Hà vai Hạnh

Lưu Trọng Ninh vai ông Vạn

Minh Châu vai bà Nhân

Như Quỳnh vai bà Hơn

Giải thưởng:

-Bông sen bạc Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XIII, năm 2001

-Giải A của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 2000


Trần Luân Kim


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét