Chị hướng đến cái vô bờ như “thế cuộc tuy dài thế”, như “biển kia dẫu rộng” để tuyệt đích hóa ái tình của mình
Mọi người kể chuyện chiến tranh bằng những anh hùng ca của sơn hà, Xuân Quỳnh lặng lẽ kể chuyện mối tình đơn phương nồng nàn, mãnh liệt: “Làm sao được tan ra/Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình ái/Để ngàn năm còn vỗ”.
Trong tiếc thương, bạn bè tìm đọc lại những vần thơ trước nhất để thanh thoát nhớ về nữ sĩ nhân kiệt ấy. Với những tập thơ nức danh được xuất bản: Hoa dọc chiến hào; Gió Lào, cát trắng; Tự hát; Bầu trời trong quả trứng. Trong ái tình của chị ăm ắp dự cảm mai sau: “Lá vàng rụng xuống/Cho đất thêm màu/Có mất đi đâu/Nhựa lên chồi biếc. “Xuân Quỳnh là minh chứng cho quan điểm vẻ đẹp cao quý nhất trong văn học là vẻ đẹp tự nhiên.
Cùng đi học ở Nga năm 1987 với chị, nhà thơ Phan Thị nhàn hạ còn nhớ mãi cùng vào cửa hàng vải, trước nhất Quỳnh mua vải sẫm màu để mẹ anh Vũ may bộ đồ. Nữ diễn viên múa nhỏ nhắn ấy đã có một mối duyên kỳ ngộ với thơ ca.
1988, nữ sĩ mãi mãi ra đi trong một tai nạn cùng người bạn trăm năm Lưu Quang Vũ và người con trai út Lưu Quỳnh Thơ. Những dòng chữ chi chít ấy là minh chứng cho cảm hứng thơ đột, dồi dào. Ghét cả tiếng đi mạnh, cả tiếng ho làm con chị giật mình”. , Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng quốc gia về văn học nghệ thuật năm 2001. Đến một chặng đời, khi cả nội tâm lẫn khao khát yêu đương chợt mãnh liệt trỗi dậy, chị đã tìm đến thơ để giải tỏa đủ vui buồn cá nhân chủ nghĩa.
Với Xuân Quỳnh, con đường thơ chỉ giản dị có thế. Bà và thi sĩ, nhà viết kịch tài tình Lưu Quang Vũ là đôi uyên tương tài ba yểu mệnh, có đóng góp lớn trong nền văn chương Việt Nam.
Nếu những tháng năm tuổi xanh Xuân Quỳnh tìm ra biển lớn, thì đến khi cập bến tình, thi sĩ lặng lẽ trở về “Em trở về đúng nghĩa trái tim em/Là máu thịt đời thường ai chẳng có/Cũng ngừng đập lúc cuộc thế không còn nữa/Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” ( Tự hát ) “Nỗi khát vọng ái tình” bổi hổi ngực trẻ ngày nào giờ nhường chỗ cho tình thương và lòng tận tụy trong thiên chức người vợ, người mẹ của gia đình.
Đằng sau cảm thức cô đơn và sự bất an thường trực ấy, người ta thấy cái lý của “tình muôn thuở/có bao giờ đứng yên”.
Ban ngày quần quật, khó nhọc với công việc cơ quan, công việc gia đình, lo chợ búa cơm cháo, giặt giũ, học hành cho ba đứa con, Quỳnh chỉ có thời gian sáng tác vào ban đêm. Bà báo hiệu khuynh hướng đưa thơ về với cái đời thường, là ngôn ngữ của người đàn bà đòi quyền yêu, quyền sống tại nhân gian, ngay hiện thời, trong những hạnh phúc thường nhật”, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Thạch khẳng định.
Cứ phải ghi bằng hết những ý nghĩ ào ào kéo đến trong đầu không cần vần vèo gì vội.
“Xuân Quỳnh là sự báo trước của những nhà thơ nữ Đổi mới. Đi có ba tháng, ba lần Quỳnh gửi nước hoa về cho Vũ vì anh ấy hay xúc tiếp với diễn viên. Trở về đúng nghĩa trái tim Là người báo trước khuynh hướng nữ tính, Xuân Quỳnh cũng đi trọn vẹn với thiên hướng này suốt đời sáng tác của mình.
Thường thì vào khoảng 11 giờ đêm, khi các con đã ngủ yên Quỳnh mới ngồi trên nền nhà, kê giấy lên đầu gối mà viết. Nữ sĩ đã nháp bài thơ ra văn xuôi trước khi hoàn chỉnh nó, cho nó một khuôn mặt nhất mực trên trang giấy.
” ( Chồi biếc ). Xuân Quỳnh đã “tự hát” giản dị và thực thà những thổn thức sâu thẳm con gái khát khao đi tìm hạnh phúc, tình nguyện hiến dâng.
Có mấy cái kẹo sô cô la chị cũng gói để dành cho con”, bà Nhàn nhớ lại. Nhưng Xuân Quỳnh đã tìm thấy một tình yêu xứng đáng để thảnh thơi.
“Cơm ăn thừa Quỳnh không bỏ đi mà cho vào hấp lại. Xuân Quỳnh hằng ngày đến cơ quan thường phải mang theo cả đống áo xống của gia đình, vừa tranh thủ giặt bên cái máy nước rỉ chảy vừa cố dằn nén những cơn tức thở do bệnh tim gây ra.
Nhà văn Nguyễn Thị Như Trang nhớ mãi về bà như một người mẹ của ba đứa con trai đang sức lớn và vẫn còn mải chơi. Con sóng báo trước Khi Quỳnh hát lên lời của Sóng , thì các thi sĩ khác vẫn đang hòa chung tiếng nói của cộng đồng bằng cảm hứng yêu nước, ý thức ca ngợi.
“Và trong nhiều bữa ăn thiếu hụt của thuở hàn vi ấy, để nhường phần cho chồng và lũ con được ăn thêm, Quỳnh thường tế nhị ăn rất chậm và đương nhiên không đủ no.
Đó là những quyển vở đã ghi chi chít những chữ là chữ. Xuân Quỳnh (1942-1988), nhà thơ nữ nức tiếng của Việt Nam với những bài thơ tình được đông đảo độc giả yêu thích: Sóng, Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu. Nhưng những tác phẩm của chị đã mở đường cho dòng thơ nữ của văn học Việt Nam sau này. Cả nhà chỉ có một cái bàn con “ưu tiên” cho Vũ ngồi làm việc.
Những năm tháng khó khăn khi Lưu Quang Vũ phải hùi hụi viết kịch bản cho các hí trường để kiếm tiền, có một chiếc bàn làm việc Xuân Quỳnh cũng nhường cho chồng.
Nhìn lại, giá trị của thơ Xuân Quỳnh có thể không nằm ở những sáng tạo nghệ thuật đột phá.
Nhiều đêm thức giấc chị nghĩ đến thơ để nén cơn đói cồn cào”, bà Trang nhớ lại. Nếu xếp trong chùm thơ chống Mỹ thời đoạn này với tổ quốc (Nguyễn Khoa Điềm), Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật), Khoảng trời hố bom (Lâm Thị Mỹ Dạ)…, Sóng của Xuân Quỳnh là một bài thơ lạc điệu.
Những tác giả nữ như Dư Thị Hoàn, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh có thể đã mạnh bạo hơn trong việc tìm đến những hình thức trình bày táo tợn, mới mẻ nhưng nếu không có Xuân Quỳnh với cầm cố đưa thơ ca về gần với ngôn ngữ đời thường, hẳn sẽ khó có đất cho những khuynh hướng tính nữ của ngày hôm nay.
Trong bối cảnh những năm 60, 70 của thế kỷ 20, giữa chiến tranh chống Mỹ gian khổ, ác liệt, Xuân Quỳnh như một cành hoa tươi mọc lên giữa rừng bom đạn. Nhắm mắt xuôi tay lúc cuối đời.
Bà Vũ Thị Khánh ( mẹ nhà thơ Lưu Quang Vũ ) Quỳnh An. Cuộc sống vất vả, lam lũ bình thường không gặm nhấm được tâm hồn nữ sĩ. Cả một đời chưa khi nào biết đến nhàn hạ. “Nói được niềm vui nỗi khổ của chính mình, tôi cảm thấy có cái sung sướng không mấy ai có! Như người khác không được yêu mà mình được yêu, như người khác chỉ biết lặng im mà mình biết nói”, nữ sĩ chia sẻ.
Thương xót và hy sinh quên mình cho tổ ấm, cho chồng cho con, Xuân Quỳnh sống nồng cháy và mãnh liệt cả trong thơ lẫn trong đời.
Còn xếp đặt lại, đặt vần, tôi làm sau, việc ấy đơn giản hơn”, sau này Xuân Quỳnh tâm tình. Rồi còn mua ấm điện cho chị Đông Mai, phim và giấy ảnh cho cháu Kít đang học quay phim, quạt máy cho Tuấn Anh, búp bê cho Mí, chảo có nắp cho Thơ - em gái Vũ… Trong khi đó, bản thân người mẹ ba con ấy lại kiệm ước, tùng tiệm đến kinh ngạc. Thi sĩ Xuân Quỳnh và nhà văn Azit Nexin - Ảnh: gia đình cung cấp Nhà phê bình Vương Trí Nhàn đến giờ vẫn chẳng thể quên những bản nháp thơ Xuân Quỳnh.
Xuân Quỳnh vẫn khẩn thiết yêu, “yêu cả khi chết đi rồi”. Bạn cùng thời kể lại, chị thường nói: “Có con, chị ghét cả con muỗi con ruồi.
8. Tôi chưa từng thấy một người phụ nữ nào yêu chồng và chiều chồng như Xuân Quỳnh. Yêu đến ham mê, đến quên cả bản thân mình”. Thứ ái tình giông tố, bản năng, mãnh liệt và bất chấp, đủ để “yêu anh cả khi chết đi rồi”. “Lúc viết những dòng này, tôi như người phát cuồng. Nó không có quyền mang dấu ấn của những gắng gỏi, gò gẫm nơi tác giả dù khi viết tác giả đã phải lao tâm khổ tứ rất nhiều”, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nhận định.
Quỳnh đã có mặt trong đời Vũ vào những năm gieo neo, long đong nhất. Vượt qua bao thử thách, trắc trở, chung cuộc họ đã tìm thấy nhau và trở về chung sống trong một mái ấm nhỏ bé. Cuộc chừng ái tình tuyệt đích của chị rốt cuộc dừng lại ở thi sĩ, nhà viết kịch thiên tài Lưu Quang Vũ. Chưa bao giờ được ngủ giường. Đúng như bản năng của một người phụ nữ, Xuân Quỳnh viết về tình yêu trong dự cảm đơn chiếc và nỗi lo lắng khắc khoải: “Những ngày không gặp nhau/Lòng thuyền đau - rạn vỡ/Nếu giã biệt thuyền rồi/Biển chỉ còn sóng gió/Nếu phải cách xa anh/Em chỉ còn bão tố” ( Thuyền và biển ).
Những năm khó khăn gian khổ ấy vẫn còn được bạn bè và những người nhà của thi sĩ nhắc lại mãi. Ngày 29. Mua kem bôi mặt Quỳnh chọn loại ít tiền nhất, về nhà mới biết đó là kem bôi chân. “Quỳnh là người đàn bà nhân tài, thông minh và xót thương chồng con hết mực.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét